Hội chợ Thương mại - Nông nghiệp & Thủy sản MeKong 2011, từ ngày 18-24/10/2011 tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Cửu Long - TP. Cà Mau.

Thị trường thủy sản Inđônêxia (tiếp)

(16:43 - 20/02/2011)(Lượt xem: 299)

Thị trường thủy sản Inđônêxia (tiếp)

Theo số liệu của Bộ Nghề cá và Hàng hải Inđônêxia, nhu cầu thủy sản tại Inđônêxia hàng năm liên tục tăng. Năm 2009, tiêu thụ thủy sản nội địa bình quân đạt 30,17 kg/người/năm, tăng trung bình 5,96% so với năm 2005, riêng từ năm 2008 - 2009 tăng 7,75%.

Sản lượng nuôi trồng thủy sản
Cá tra
Cá tra là loài cá nuôi nước ngọt chủ yếu và được nuôi nhiều tại Inđônêxia với các hình thức nuôi bè, nuôi trong ruộng lúa, nuôi nước ngọt và nuôi lồng. Sản lượng cá tra nuôi tăng hàng năm như sau:
Sản lượng cá tra nuôi của Inđônêxia, năm 2004 – 2008 (đv: tấn)
Vùng
Năm
2004
2005
2006
2007
2008
Nuôi bè
Sumatra
1.447
2.063
2.288
1.876
12.666
Java
34
59
51
60
2
Kalimantan
9.866
4.972
5.467
5.478
6.425
Tổng
11.347
7.094
7.806
7.414
19.093
Nuôi trong ruộng lúa
Sumatra
-
-
143
236
195
Java
-
-
-
-
40
Kalimantan
2
-
-
-
-
Tổng
2
-
143
236
235
Nuôi trong ao nước ngọt
Sumatra
8.001
17.895
12.553
9.421
47.812
Java
1.013
1.841
1.741
2.178
3.336
Bali – Nusatenggara
-
2
-
3
7
Kalimantan
1.672
1.862
1.216
3.556
6.299
Sulawesi
-
6
3
-
-
Tổng
10.686
21.606
15.513
15.158
57.454
Nuôi lồng
Sumatra
9.813
6.268
12.054
4.457
5.435
Java
36.536
41.473
24.046
9.294
19.781
Bali – Nusatenggara
447
255
782
-
-
Kalimantan
68
372
111
196
23
Sulawesi
4.551
3.936
1.460
-
-
Jaya
24
22
454
-
-
Tổng
51.439
52.344
38.907
13.947
25.239
 Inđônêxia cũng XK cá tra ở dạng phi lê đông lạnh, chủ yếu sang Mỹ. Năm 2008, Inđônêxia XK 69,591 tấn cá tra sang Mỹ .
Cá nheo
Cá nheo là loài cá nước ngọt được nuôi rất phổ biến tại Inđônêxia do đặc tính dễ nuôi, có khả năng kháng bệnh và tăng trưởng nhanh. Sản lượng cá nheo nuôi bè hàng năm tăng đáng kể, tuy nhiên sản lượng vẫn thấp hơn nuôi trong ruộng lúa và nuôi trong ao nước ngọt. Sản lượng cá nheo nuôi tăng tại các vùng Sumatra, Java và Kalimantan.
Tiêu thụ thức ăn cho cá nheo tăng hơn 80% trong vòng 6 năm qua. Năm 2004, tiêu thụ thức ăn chỉ đạt 39.645 tấn, năm 2005 tăng lên 48.827 tấn. Năm 2006, tiêu thụ thức ăn giảm nhẹ còn 47.388 tấn, năm 2007 lại tăng thêm 12.202 tấn lên 59.590 tấn. Từ năm 2008 – 2009 tăng thêm 8.009 tấn, đạt 74.749 tấn vào năm 2009.
Sản lượng cá nheo nuôi của Inđônêxia, năm 2004 – 2008 (đv: tấn)
Vùng
Năm
2004
2005
2006
2007
2008
Nuôi lồng
Sumatra
148
601
661
745
641
Java
95
128
144
234
30
Bali – Nusatenggara
1
-
-
-
5
Kalimantan
7
16
35
5
145
Jaya
15
16
-
-
-
Tổng
266
761
840
984
821
Nuôi trong ruộng lúa
Sumatera
115
131
352
437
2.580
Java
43   
332
698
961
1.539
Bali – Nusatenggara
1
-
-
-
-
Sulawesi
85   
56
18
31
23
Tổng
244
519
1.068
1.429
4.142
Nuôi trong ao nước ngọt
Sumatra
34.058
36.403
11.390
16.074
20.002
Java
50.208
49.666
62.123
69.924
87.204
Bali – Nusatenggara
1.842
7.988
175
302
302
Kalimantan
5.765
4.402
438
1.773
1.773
Sulawesi
6.575 
7.274
98
291
369
Jaya
1.292
2.052
917
41
242
Tổng
99.740
107.785
75.141
88.405
109.292
Cá chép
Cá chép được nuôi theo hình thức nuôi bè, nuôi trong ruộng lúa, nuôi nước ngọt và nuôi lồng. Năm 2008, sản lượng cá chép nuôi bè giảm từ 26.514 tấn năm 2007 xuống còn 9.876 tấn. Kalimantan là vùng có sản lượng cá chép nuôi cao nhất cả nước với 6.322 tấn, trong khi sản lượng của vùng Sumatra lại giảm mạnh.
Tiêu thụ thức ăn cho cá chép từ năm 2004 – 2009 tăng đáng kể do người nuôi chuyển đổi từ phương thức nuôi truyền thống sang nuôi bán thâm canh và thâm canh.
Đảo Java có sản lượng cá chép nuôi lớn nhất Inđônêxia và cũng là nơi tiêu thụ nhiều nhất thức ăn cho cá chép vì gần 90% người nuôi cá chép tại đây áp dụng phương thức nuôi bán thâm canh và thâm canh. Năm 2009, tiêu thụ thức ăn cho cá chép tại Java đạt 185.348 tấn.
Cá mú
Năm 2004 – 2008, Sumatra vẫn là vùng chiếm ưu thế về sản lượng nuôi cá mú nước mặn tại Inđônêxia. Năm 2008, sản lượng nuôi cá mú của vùng đạt 1.918 tấn, giảm so với 4.214 tấn năm 2007. Tổng sản lượng cá mú nuôi của Inđônêxia năm 2008 chỉ đạt 4.268 tấn, giảm so với 6.370 tấn năm 2007.
Tiêu thụ thức ăn cho cá mú tăng chậm. Năm 2009, tiêu thụ thức ăn cho cá mú đạt 5.649 tấn, tăng 605 tấn so với 5.044 tấn năm 2008. Sulawesi là vùng tiêu thụ nhiều nhất thức ăn cho cá mú.
Theo báo cáo của FAO, cá mú là loài cá rạn san hô đắt nhất. Tuy nhiên, nhu cầu tiêu thụ nội địa khá hạn chế nên chủ yếu chúng được XK ở dạng sống sang các nước ASEAN như Inđônêxia, Thái Lan, Philippin và Malaixia. Nhật Bản là thị trường NK quan trọng nhất cá mú sống, tiếp đến là Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc và Xingapo.
Tuy nhiên, việc đăng ký XK cá mú sống tại Inđônêxia khá khó khăn do tàu Hồng Kông, Trung Quốc trực tiếp mua ngay tại lồng nuôi trên biển và vận chuyển. Năm 2010, cá mú đông lạnh cũng bắt đầu được XK sang Mỹ.
Tiêu thụ thủy sản nội địa
Theo số liệu của Bộ Nghề cá và Hàng hải Inđônêxia, nhu cầu thủy sản tại Inđônêxia hàng năm liên tục tăng. Năm 2009, tiêu thụ thủy sản nội địa bình quân đạt 30,17 kg/người/năm, tăng trung bình 5,96% so với năm 2005, riêng từ năm 2008 - 2009 tăng 7,75%.
Thương mại
Inđônêxia là nước XK thủy sản, gồm cả thủy sản nuôi và khai thác biển. Các mặt hàng XK chính là tôm, cá ngừ, cá ngừ vằn, cua và tảo biển. Trong đó, tôm là mặt hàng XK chủ lực, chiếm 52% về giá trị và 16% về khối lượng năm 2003.
Năm 2009, Inđônêxia XK 165.000 tấn tôm, trị giá 974 triệu USD, 17.300 tấn cua (354 triệu USD), 95.000 tấn cá ngừ và cá ngừ vằn (154 triệu USD).
Thị trường XK lớn nhất là Nhật Bản, Mỹ và EU, trong đó XK sang Nhật Bản 106.502 tấn (440,659 triệu USD), Mỹ 120.150 tấn (643,726 triệu USD) và EU 56.189 tấn (700,556 triệu USD). Ngoài ra, Inđônêxia cũng XK gần 422.703 tấn thủy sản sang các nước khác.

Thị trường XK thủy sản của Inđônêxia có khả năng tăng mạnh do nhu cầu thủy sản chế biến cao. Các mặt hàng thủy sản XK chủ yếu là tôm (đông lạnh hoặc không và đóng hộp), cua (đông lạnh hoặc không và đóng hộp), chân ếch (tươi và ướp đá), tảo biển khô, cá cảnh (nước ngọt và nước mặn), nhuyễn thể (điệp và ốc), ngọc trai và các loài khác.


Trở lại

Người đăng: Bích Thủy
Nguồn tin: Vasep

 

Thành viên

Hỗ trợ trực tuyến

Phan Nhựt Cường (Phòng XTDL)

nhutcuong

Phạm Thành Hiếu (Phòng XTDL)

thanhhieusnv

Hotline: 0780 3827985

Tin vắn

1. Minh Phú: Giá trị xuất khẩu thủy sản 2 tháng đầu năm tăng 30,47%

                                    

2. VASCO TĂNG TẦN SUẤT CHUYẾN BAY

Từ ngày 01/11/2011, Công ty bay dịch vụ hàng không (VASCO) tăng tần suất khai thác trên đường bay Cà Mau – TP. HCM lên 11 chuyến/tuần. Lịch bay cụ thể như sau:
 

3. Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú: XK tăng 48.5%

8 tháng đầu năm 2011, Minh Phú đạt giá trị XK tăng 48.5% so với cùng kỳ năm ngoái

4. Tìm đối tác XK tôm vào Trung Đông

 Đại sứ quán Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất (UAE) tại Việt Nam cho biết đang có danh sách một số doanh nghiệp UAE tìm kiếm đối tác có khả năng cung cấp thủy sản sang thị trường các nước Trung Đông.

5. Cà Mau: 4 doanh nghiệp nằm trong top 10 XK thủy sản

Tập đoàn Minh Phú (MPC) tiếp tục giữ vững vị trí dẫn đầu là DNXK thủy sản lớn nhất cả nước trong 6 tháng đầu năm 2011, chiếm 5,42% trong tổng kim ngạch XK của toàn ngành, gấp hơn 2 lần so với DN kế hạng là Vĩnh Hoàn (2,58%).

quảng cáo

Liên kết website