Hội chợ Thương mại - Nông nghiệp & Thủy sản MeKong 2011, từ ngày 18-24/10/2011 tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Cửu Long - TP. Cà Mau.

Thị trường thủy sản Inđônêxia

(16:41 - 20/02/2011)(Lượt xem: 485)

Thị trường thủy sản Inđônêxia

Tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản của Inđônêxia từ năm 2007-2009 tăng trung bình 49,68% từ 3,193 triệu tấn lên 4,780 triệu tấn. Trong đó, tăng mạnh nhất là cá tra (Pangasius spp) - 260% - lên 132,600 tấn năm 2009, tiếp đến cá nheo (Clarias spp) 118%, cá rô phi 82% và tảo biển 49%. Tuy nhiên, sản lượng tôm lại giảm 15% từ 409.590 tấn năm 2008 xuống 348.100 tấn.

Nuôi thủy sản thâm canh của Inđônêxia chỉ tăng 13%. Sản lượng tôm ước tính giảm khoảng 15%.
Inđônêxia XK thủy sản sang trên 210 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Các thị trường XK chính là Nhật Bản, Hồng Kông, Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Ôxtrâylia, Đức, Anh và Hà Lan. Năm 2009, khối lượng XK thủy sản của Inđônêxia giảm so với năm trước, đặc biệt là tôm. Các mặt hàng XK chính là tôm, cá ngừ, cá ngừ vằn, cua, tảo biển, phi lê cá rô phi đông lạnh, cá tra và các loài thuộc họ cá mú.
Tổng quan ngành nuôi trồng thủy sản Inđônêxia
Inđônêxia là một quốc đảo với trên 17.000 hòn đảo và khoảng 81.000 km đường bờ biển. Diện tích có thể sử dụng để nuôi trồng thủy sản là 26.606.000 ha. Ngành nuôi trồng thủy sản đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thất nghiệp. Năm 2003, Inđônêxia có 2.284.208 hộ gia đình tham gia nuôi trồng thủy sản, chiếm khoảng 40% tổng lao động trong ngành thủy sản (theo số liệu của FAO năm 2005).
Inđônêxia chủ yếu nuôi thủy sản đa loài ở các vùng nước ngọt, nước lợ và nước mặn với nhiều phương thức sản xuất. Nuôi thủy sản nước ngọt tại Inđônêxia bắt đầu phát triển từ cuối những năm 1970 khi sản lượng thủy sản nuôi nước ngọt tăng đáng kể do áp dụng kỹ thuật mới trong các trại giống và nuôi, cùng với sự phát triển của thức ăn tổng hợp. Các loài nuôi chính là cá chép, cá da trơn (cá tra và cá nheo) và cá rô phi vằn. Năm 1978, diện tích nuôi thủy sản nước lợ tăng đáng kể do sự phát triển thành công của kỹ thuật cắt cuống mắt tôm và sự tăng trưởng mạnh của các trại giống tôm. Tại các tỉnh miền nam Sumatra và Lampung, diện tích nuôi thủy sản nước lợ được mở rộng trong lĩnh vực tư nhân và sử dụng hệ thống nuôi ghép trong ao quy mô lớn. Họ tôm he và cá măng là các loài nuôi phổ biến. Nuôi biển chỉ được phát triển trong 10 năm trở lại đây và các loài nuôi chủ yếu là cá mú dẹt, cá mú cọp và các loài tảo biển.
Năm 2005, tôm chân trắng sạch bệnh được đưa vào nuôi để thay thế cho tôm sú do sự bùng nổ của virut và dịch bệnh. Sau khi nuôi thành công tôm chân trắng năm 2007, khoảng 90% sản lượng tôm nuôi của Inđônêxia là tôm chân trắng.
Như đã đề cập ở trên, Inđônêxia có rất nhiều loài thủy sản được nuôi từ ngoài biển đến trong ruộng lúa. Do vậy, sản lượng nuôi trồng thủy sản hàng năm của nước này tiên tục tăng.
Theo số liệu thống kê năm 2008 - 2009, sản lượng nuôi biển tăng 23,96%, nuôi nước lợ tăng 23,5%, nuôi nước ngọt tăng 23,92%, nuôi bè tăng 23,93%, nuôi lồng tăng 27,79% và nuôi trong ruộng lúa tăng 23,94%.
Theo số liệu sơ bộ của Bộ Nghề cá và Hàng hải Inđônêxia, sản lượng nuôi biển năm 2009 đạt cao nhất với 2.437.100 tấn, tiếp đến nuôi nước lợ 1.180.700 tấn, nuôi nước ngọt 593.800 tấn và nuôi lồng 336.300 tấn.
Năm 2009, giá trị nuôi biển đạt 11,67 nghìn tỷ IDR, nuôi nước lợ đạt 19,40 nghìn tỷ IDR, nuôi nước ngọt 8,73 nghìn tỷ IDR, nuôi bè 2,93 nghìn tỷ IDR, nuôi lồng 1,99 nghìn tỷ IDR và nuôi trong ruộng lúa 1,95 nghìn tỷ IDR. Như vậy, giá trị nuôi lồng tăng mạnh nhất – 80,89%, tiếp đến nuôi trong ruộng lúa 42,29%, nuôi lưới nổi 33,66% và nuôi nước ngọt 28,37%.
Cũng năm 2009, sản lượng tảo biển nuôi đạt 2,574 triệu tấn, cá rô phi 379.300 tấn, tôm 348.100 tấn, cá măng 291.300 tấn, cá chép 254.400 tấn và cá da trơn 200.000 tấn.
Sản lượng 5 loài nuôi chính của Inđônêxia đồng loạt tăng, trong đó, cá da trơn tăng 74,87%, cá rô phi tăng 29,98%, cá tra tăng 29,97%, tảo biển 20% và cá mú 5,89%. Tuy nhiên, sản lượng tôm năm 2009 lại giảm 15,01% so với năm trước, tương ứng 61.490 tấn.
Mặc dù chỉ tăng 5% từ năm 2007 đến 2009 nhưng cá măng vẫn đứng thứ 3 về sản lượng. Cá măng được nuôi ở các ao nước lợ theo phương thức truyền thống và bán thâm canh; tảo lam là nguồn thức ăn chính và đôi khi sử dụng thức ăn viên để vỗ béo nhằm thúc đẩy tăng trưởng của cá măng 1 tháng trước khi thu hoạch. 50% cá măng được tiêu thụ trực tiếp dưới dạng tươi và lọc xương đông lạnh, còn lại là chế biến dạng hun khói. Cá măng xương mềm nổi tiếng là đặc sản của miền Trung và Đông Java.
Tăng trưởng thấp nhất là sản lượng cá tai tượng. Nguyên nhân chính là do loài này được nuôi nhiều ở Tây Java, Nam Trung Java và Nam Sumatera. Ngoài ra, thời gian nuôi cá tai tượng cũng lâu hơn các loài cá nước ngọt khác; yêu cầu về chất lượng nước, con giống và thức ăn cũng cao. Việc vận chuyển cá tai tượng sống từ vùng nuôi đến các nhà hàng tại thành phố lớn khá khó khăn do phải đảm bảo mùi vị tốt nhất của cá ngay khi thu hoạch từ ao nuôi.
Diện tích nuôi trồng thủy sản
Các hình thức nuôi trồng thủy sản tại Inđônêxia bao gồm nuôi biển, nuôi nước lợ, nuôi nước ngọt, nuôi bè, nuôi lồng và nuôi trong ruộng lúa. Năm 2009, diện tích nuôi nước lợ là 673,860 ha, nuôi nước ngọt 242,020 ha, nuôi trong ruộng lúa 136,330 ha, nuôi biển 120,680 ha, nuôi lồng1,550 ha và nuôi bè 930 ha.
Tăng diện tích nuôi thủy sản tại Inđônêxia đang đối mặt với vấn đề thay đổi mục đích sử dụng đất và ô nhiễm nước. Từ năm 2004 – 2009, diện tích nuôi tảo biển tăng 1.015,59%, trong đó nuôi nước lợ tăng 7,22%, nuôi nước ngọt tăng 23,36%, nuôi bè tăng 128,68%, nuôi lồng tăng 18,37% và nuôi trong ruộng lúa tăng 1,95%.
Từ năm 2008 - 2009, diện tích nuôi biển tăng 37,46%, nuôi nước lợ tăng 9,90%, nuôi nước ngọt tăng 0,05%, nuôi
Sản lượng nuôi trồng thủy sản
Cá rô phi
Cá rô phi là loài nuôi chính tại Inđônêxia theo hình thức nuôi bè, nuôi trong ruộng lúa, nuôi nước ngọt và nuôi lồng. Sản lượng cá rô phi hàng năm tăng đáng kể. Sản lượng cá rô phi nuôi bè tăng từ 15.240 tấn năm 2004 lên 22.271 tấn năm 2008. Tuy nhiên, sản lượng nuôi năm 2005 – 2006 lại giảm. Năm 2006, sản lượng cá rô phi nuôi đạt 15.623 tấn, giảm 7.779 tấn so với 23.402 tấn năm 2005. Ngoài ra, sản lượng cá rô phi nuôi năm 2005 vẫn cao hơn năm 2008.
Từ năm 2004 – 2008, sản lượng cá rô phi nuôi trong ruộng lúa cũng tăng. Năm 2008, sản lượng đạt 21.578 tấn, tăng 3.941 tấn so với 17.637 tấn năm 2007. Năm 2006, sản lượng đạt 15.942 tấn, tăng so với 14.430 tấn năm 2005 và 9.555 tấn năm 2004.
Sản lượng cá rô phi nuôi ao nước ngọt liên tục tăng từ năm 2004 - 2008. Năm 2004, sản lượng chỉ đạt 57.002 tấn, sang năm 2005 tăng lên 73.916 tấn, năm 2006 là 90.671 tấn, năm 2007 tiếp tục tăng lên 93.520 tấn và năm 2008 là 102.863 tấn.
Sản lượng cá rô phi nuôi bè và nuôi lồng tăng mạnh nhất do ngư dân đẩy mạnh nuôi trong các hồ tự nhiên và nhân tạo hoặc các sông lớn như ở Sumatra và Java.
Tổng sản lượng cá rô phi tại tất cả các vùng ở Inđônêxia tăng trên 8 lần (832%) từ năm 2004 – 2008. Năm 2004, sản lượng cá rô phi nuôi chỉ đạt 103.600 tấn, năm 2005 tăng lên 35.961 tấn, năm 2006 tăng thêm 11.196 tấn đạt 47.157 tấn, năm 2007 tăng lên 79.210 tấn và năm 2008 là 142.721 tấn.
Về tiêu thụ thức ăn cho cá rô phi: Tiêu thụ thức ăn cho cá rô phi tăng 1,5 lần trong vòng 6 năm qua. Năm 2004, tiêu thụ thức ăn chỉ đạt 103.600 tấn, năm 2005 đã tăng lên 160.212 tấn. Năm 2006, tiêu thụ thức ăn cũng tăng thêm 15.834 tấn đạt 176.046 tấn. Năm 2007, tiêu thụ thức ăn lại tăng 35.612 tấn lên 211.658 tấn. Từ năm 2008 – 2009, tiêu thụ thức ăn tăng 28.446 tấn, từ 237.057 tấn lên 265.503 tấn.

Ngoài tiêu thụ nội địa, cá rô phi cũng được XK sang nhiều nước trên thế giới, chủ yếu là Mỹ. Cá rô phi XK phần lớn ở dạng phi lê đông lạnh. Tổng khối lượng XK cá rô phi sang Mỹ tăng từ năm 2004 – 2008 nhưng lại giảm vào năm 2009. Năm 2004, khối lượng XK cá rô phi đạt 501,163 tấn và năm 2005 đạt 730,288 tấn. Năm 2006, khối lượng XK tăng thêm 137,645 tấn lên 867,933 tấn. Năm 2007, khối lượng XK đạt 960,227 tấn và năm 2008 giảm nhẹ xuống còn 804,820 tấn. Năm 2009, khối lượng XK tiếp tục giảm còn 737,434 tấn. (còn nữa)


Trở lại

Người đăng: Bích Thủy
Nguồn tin: Vasep

 

Thành viên

Hỗ trợ trực tuyến

Phan Nhựt Cường (Phòng XTDL)

nhutcuong

Phạm Thành Hiếu (Phòng XTDL)

thanhhieusnv

Hotline: 0780 3827985

Tin vắn

1. Minh Phú: Giá trị xuất khẩu thủy sản 2 tháng đầu năm tăng 30,47%

                                    

2. VASCO TĂNG TẦN SUẤT CHUYẾN BAY

Từ ngày 01/11/2011, Công ty bay dịch vụ hàng không (VASCO) tăng tần suất khai thác trên đường bay Cà Mau – TP. HCM lên 11 chuyến/tuần. Lịch bay cụ thể như sau:
 

3. Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú: XK tăng 48.5%

8 tháng đầu năm 2011, Minh Phú đạt giá trị XK tăng 48.5% so với cùng kỳ năm ngoái

4. Tìm đối tác XK tôm vào Trung Đông

 Đại sứ quán Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất (UAE) tại Việt Nam cho biết đang có danh sách một số doanh nghiệp UAE tìm kiếm đối tác có khả năng cung cấp thủy sản sang thị trường các nước Trung Đông.

5. Cà Mau: 4 doanh nghiệp nằm trong top 10 XK thủy sản

Tập đoàn Minh Phú (MPC) tiếp tục giữ vững vị trí dẫn đầu là DNXK thủy sản lớn nhất cả nước trong 6 tháng đầu năm 2011, chiếm 5,42% trong tổng kim ngạch XK của toàn ngành, gấp hơn 2 lần so với DN kế hạng là Vĩnh Hoàn (2,58%).

quảng cáo

Liên kết website