Thị trường thủy sản Trung Quốc (tiếp)
(09:07 - 14/02/2011)(Lượt xem: 426)
Dự báo mức tiêu thụ thủy sản bình quân theo đầu người của Trung Quốc tiếp tục tăng trong năm 2011.
Dự báo mức tiêu thụ thủy sản bình quân theo đầu người của Trung Quốc tiếp tục tăng trong năm 2011. Theo số liệu của Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc (NSB), năm 2009 tiêu thụ thủy sản bình quân theo đầu người tại thành thị ước đạt 14,7 kg, tăng so với 14,3 kg của năm 2008, trong khi đó, tại nông thôn là 5,27 kg, tăng nhẹ so với 5,25 kg. Tiêu thụ thủy sản năm 2010 cao hơn năm 2009 chủ yếu do nguồn cung tăng trong khi giá bán phải chăng và thu nhập của người tiêu dùng tăng.
Theo kết quả nghiên cứu 80 thị trường thủy sản chính của Bộ Nông nghiệp Trung Quốc (MOA), giá trung bình thủy sản 3 quý đầu năm 2010 tăng khoảng 10% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá thủy sản nước mặn tăng 14% và giá thủy sản nước ngọt tăng 5%. Dự báo giá thủy sản năm 2011 sẽ tiếp tục tăng do giá bột cá và chi phí đầu vào khác tăng.
Hầu hết người tiêu dùng Trung Quốc khá nhạy cảm với giá bán thủy sản. Các sản phẩm thủy sản nuôi nước ngọt như cá chép và tôm được tiêu thụ nhiều tại nhà và tại nhà hàng do giá phải chăng. Trong khi đó, thủy sản nước mặn bao gồm cá đù vây vàng, cá hố và mực ống được ưa chuộng tại miền Bắc Trung Quốc. Thủy sản nước mặn NK chính là cá hồi, mực ống, cá bơn và cá sòng. Thủy sản có vỏ chế biến và philê cá rô phi ngày càng thông dụng với người tiêu dùng thành phố. Thủy sản NK giá trị cao như tôm hùm, trai vòi voi, cá hồi và cua được tiêu thụ nhiều tại các khách sạn và nhà hàng cao cấp. Theo Số liệu Thương mại Toàn cầu (GTA), 10 tháng đầu năm 2010 Trung Quốc đã NK 12.288 tấn cá hồi từ Na Uy, tăng 80% so với năm 2009. Hiệp hội Thủy sản Na Uy cho biết, năm 2010 Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản và trở thành thị trường NK lớn nhất cá hồi của nước này. Nền kinh tế phát triển mạnh kéo theo sự gia tăng của tầng lớp trung lưu tại các thành phố lớn và vùng ven biển càng thúc đẩy sự phát triển của các sản phẩm này.
Thương mại
Trung Quốc trở thành nước thương mại thủy sản lớn nhất thế giới năm 2010
Ước tính Trung Quốc đạt trên 17 tỷ USD tổng giá trị thương mại thủy sản năm 2010 , vượt qua Mỹ và trở thành nước thương mại thủy sản lớn nhất thế giới. Thặng dư thương mại thủy sản năm 2010 ước đạt 8,1 tỷ USD, tăng từ 6,2 tỷ USD của năm 2009.
Giá trị XK năm 2010 ước đạt 12,3 tỷ USD, tăng 25% so với năm 2009 do giá XK tăng, trong khi khối lượng XK chỉ tăng 12%.
Giá trị NK năm 2010 ước đạt 4,2 tỷ USD, tăng 15% so với 3,6 tỷ USD của năm 2009 do nhu cầu về thủy sản của thế giới và trong nước phục hồi. Theo GTA, 10 tháng đầu năm 2010, tổng khối lượng XK thủy sản của Trung Quốc đạt 2,4 triệu tấn, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2009; tổng khối lượng NK đạt 1,9 triệu tấn, tăng 12%. Giá trị XK cao trong khi khối lượng chỉ tăng nhẹ cho thấy chi phí sản xuất tăng và sự chuyển hướng sang các sản phẩm giá trị gia tăng. Ngành thủy sản Trung Quốc cho rằng nền kinh tế thế giới phục hồi ổn định và sự cạnh tranh mạnh mẽ của ngành thủy sản trong nước sẽ thúc đẩy XK thủy sản của nước này trong năm 2011.
Năm 2010, Trung Quốc có 22 thị trường NK thủy sản đạt trên 100 triệu USD, tăng so với 17 thị trường năm 2009. Nhật Bản vẫn là nước NK lớn nhất, tiếp đến Mỹ và Hàn Quốc.
Theo GTA, 10 tháng đầu năm 2010, Trung Quốc NK 134.393 tấn cá hồi, giảm 20% so với cùng kỳ năm 2009. Giá NK trung bình đạt 3.213 USD/tấn, tăng 40%. NK cá hồi từ Nga và Chilê giảm 65% và 60% do sản lượng khai thác của 2 nước này giảm, kết quả của việc thay đổi chính sách khai thác biển của chính phủ Nga và bùng nổ dịch bệnh tại Chilê. NK từ Mỹ tăng 4% lên 58.943 tấn. Mỹ là nước cung cấp cá hồi lớn nhất cho Trung Quốc, tiếp đến Nhật Bản.
Dự kiến Nga sẽ là nước cung cấp thủy sản lớn nhất cho Trung Quốc, tiếp đến Mỹ và Nhật Bản. Năm 2010, tổng NK thủy sản từ Nga đạt 1,2 tỷ USD, tương đương năm 2009 và chiếm 29% NK thủy sản của Trung Quốc.
Năm 2009, Thanh Đảo và Đại Liên vẫn là 2 cảng nhập thủy sản lớn nhất của Trung Quốc, chiếm 75% tổng khối lượng NK của cả nước. Các nhà máy được xây dựng tại Thanh Đảo và Đại Liên sẽ góp phần đưa 2 thành phố này trở thành trung tâm NK thủy sản lớn nhất của Trung Quốc.
Thương mại thủy sản với Mỹ tiếp tục tăng
Mặc dù là thị trường NK và XK thủy sản lớn thứ 2 của Trung Quốc nhưng thương mại giữa Mỹ và nước này vẫn có sự thâm hụt lớn. 10 tháng đầu năm 2010, NK thủy sản từ Mỹ tăng 24% lên 587 triệu USD. Thủy sản đông lạnh vẫn là mặt hàng được NK nhiều nhất với 475,5 triệu USD, chiếm 81% tổng NK từ Mỹ. Trong đó, NK cá hồi đạt 176 triệu USD, tiếp đến cá bơn 112 triệu USD. Cá hồi ngày càng phổ biến với tầng lớp trung lưu và được ưa chuộng tại các nhà hàng Nhật Bản hoặc các khách sạn cao cấp tại các thành phố lớn. Ngành thủy sản cho rằng Trung Quốc sẽ trở thành 1 trong những thị trường cá hồi lớn nhất thế giới chỉ trong một thời gian ngắn nữa.
10 tháng đầu năm 2010, tổng XK thủy sản của Trung Quốc sang Mỹ đạt 1,9 tỷ USD, tăng 20% so với cùng kỳ năm trước. Các sản phẩm XK chính bao gồm philê cá (871 triệu USD), giáp xác/nhuyễn thể chế biến (424 triệu USD), cá và trứng cá muối chế biến/đóng hộp (214 triệu USD).
NK bột cá dự kiến đạt 1,2 triệu tấn năm 2011
NK bột cá năm 2011 ước đạt 1,2 triệu tấn, tăng từ 1,1 triệu tấn của năm 2010 do Trung Quốc mở rộng quy mô ngành chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. NK bột cá năm 2009 đạt 1,3 triệu tấn do sự phục hồi ổn định của ngành chăn nuôi. NK và tiêu thụ bột cá năm 2010 bị giảm do giá tăng đỉnh điểm. Theo GTA, giá NK bột cá của Trung Quốc 10 tháng đầu năm 2010 tăng 60% lên 1.616 USD/tấn do sản lượng bột cá từ các nguồn cung chính giảm. 10 tháng đầu năm 2010, tổng NK bột cá của Trung Quốc giảm 24% (đặc biệt từ 2 nguồn cung hàng đầu là Pêru và Chilê, giảm 23% và 61%).
Theo ngành thức ăn chăn nuôi của Trung Quốc, bột cá vẫn được coi là nguồn prôtêin tốt nhất và có giá phù hợp. Khi giá bột cá quá cao, các loại thức ăn prôtêin khác được lựa chọn để thay thế. Năm 2010, sản xuất bột cá nội địa vẫn thấp và ước đạt dưới 250.000 tấn. Pêru là nước cung cấp bột cá lớn nhất của Trung Quốc, chiếm 59%. NK bột cá từ Mỹ năm 2010 ước thấp hơn năm 2009 và đạt khoảng 70.000 tấn do giá tăng.
Philê cá được XK nhiều nhất
10 tháng đầu năm 2010, philê cá (mã HS 0304) tiếp tục là mặt hàng được XK nhiều nhất với 2,9 tỷ USD, chiếm 30% tổng XK thủy sản của cả nước. Năm 2010, XK thủy sản của Trung Quốc ước đạt 12,3 tỷ USD, tăng mạnh so với 9,8 tỷ năm 2009. Theo GTA, 10 tháng đầu năm 2010, XK thủy sản của Trung Quốc tăng 11% về khối lượng và 27% về giá trị so với năm 2009. XK các sản phẩm chính như philê cá (mã HS 0304), giáp xác/ nhuyễn thể chế biến (mã HS 1605) và nhuyễn thể khác (mã HS 0307) đều tăng mạnh cả về khối lượng và giá trị, trong đó philê cá tăng 10% về khối lượng và 17% về giá trị. XK cá và trứng cá chế biến/đóng gói (mã HS 1604) tăng 19% về giá trị nhưng lại giảm 1% về khối lượng. XK thủy sản tăng mạnh cho thấy nhu cầu từ các thị trường chính phục hồi ổn định.
Tác động của Quy định về chống khai thác IUU đối với hải sản khai thác vẫn hạn chế
Theo Quy định về chống khai thác IUU của EU, từ ngày 1/1/2010, tất cả hải sản khai thác XK sang thị trường này phải có Giấy chứng nhận khai thác, bao gồm cả hải sản khai thác nội địa và hải sản NK từ nước ngoài để chế biến tại Trung Quốc. Theo đó, MOA yêu cầu thương lái và các cơ sở chế biến hải sản phải có Giấy chứng nhận khai thác từ các nguồn cung nước ngoài đối với các sản phẩm chế biến XK sang EU.
Theo GTA, 10 tháng đầu năm 2010, Trung Quốc đã XK 445.600 tấn thủy sản sang EU, tăng 13% so với cùng kỳ năm ngoái và 11% so với tổng XK ra nước ngoài. Tuy nhiên, ngành thủy sản Trung Quốc cho biết, Quy định về chống khai thác IUU đã tạo ra rào cản thương mại cho XK thủy sản của nước này sang EU.
Ngành cá da trơn Trung Quốc tỏ ra lo ngại trước quy định thanh tra cá da trơn của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) từ khi luật pháp Mỹ tăng cường quyền thanh tra của Cục Thanh tra và An toàn Thực phẩm Mỹ (FSIS) đối với cá da trơn nuôi NK vào năm 2008. Ngành thủy sản Trung Quốc tích cực tìm hiểu về sự mở rộng các quy định đối với cá da trơn của USDA và hy vọng điều này sẽ không ảnh hưởng đến hoạt động thương mại.
Chính sách
Chính sách của Trung Quốc ưu tiên phát triển sản xuất và XK thủy sản thuận lợi. Nhìn chung, chính sách sản xuất thủy sản của Trung Quốc không thay đổi. Tăng trưởng mạnh GDP sẽ thúc đẩy nhu cầu thủy sản nội địa tăng. MOA không ngừng khuyến khích mô hình phát triển bền vững với việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thông qua kế hoạch toàn quốc nhằm xây dựng ngành nuôi trồng thủy sản lành mạnh và thân thiện với môi trường. Nhờ đẩy mạnh hiệu lực của luật và các quy định liên quan, đồng thời cải tiến kỹ thuật, kế hoạch này sẽ khuyến khích việc sử dụng tốt hơn nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường, sản xuất sản phẩm an toàn và tăng thu nhập cho người nuôi. Các biện pháp khác bao gồm phát triển công nghệ và giám sát việc sử dụng thuốc.
Năm 2009, một số tỉnh đã đẩy mạnh nuôi các loài cá nước ngọt và nước mặn như tỉnh Liêu Ninh đã mở rộng thêm 266.000 ha nuôi thủy sản, tăng so với 158.000 ha năm 2008. Tỉnh Hồ Bắc và Hà Nam cũng tăng diện tích nuôi thủy sản lên 66.000 ha và 57.000 ha. Thật khó để dự báo diện tích nuôi thủy sản năm 2011 được mở rộng hay giữ nguyên.
Các tỉnh sản xuất lớn thủy sản sẽ tiếp tục tập trung vào các sản phẩm cạnh tranh nhất. Sản xuất, chế biến thủy sản nuôi theo hướng XK tiếp tục được tập trung tại các tỉnh ven biển.
Chính sách “Tăng trưởng bằng 0” đối với hoạt động khai thác thủy sản tự nhiên sẽ tiếp tục cản trở khai thác thủy sản nội địa mặc dù khai thác tại hải phận của nước ngoài được khuyến khích. Năm 2011, MOA quyết định sẽ cấm khai thác thủy sản từ ngày 1/4 - 1/6 tại sông Trân Châu. Để bảo vệ và khôi phục sự cân bằng sinh thái, nhà nước và sở thủy sản các tỉnh thường xuyên cung cấp giống cho các vùng nuôi trong cả nước. Theo MOA, năm 2009, tổng sản lượng khai thác tại hải phận khác giảm từ 1.083.000 tấn năm 2008 xuống còn 977.000 tấn. Hoạt động khai thác tại hải phận khác được khuyến khích, tuy nhiên sản lượng dự kiến vẫn ổn định.
Chậm trễ thực thi hệ thống cấp phép nuôi trồng thủy sản
Năm 2010, tiếp tục thực hiện hệ thống cấp phép nuôi trồng thủy sản. Theo Kế hoạch hành động Nuôi trồng thủy sản lành mạnh năm 2008 của MOA, các thành phố sản xuất lớn thủy sản đã hoàn thành toàn bộ kế hoạch phát triển các nguồn tài nguyên nước và 90% cơ sở nuôi trồng thủy sản đã được cấp phép vào cuối năm 2008. Tuy nhiên, MOA cho biết, cuối năm 2009 đã có 67% các vùng nuôi thủy sản đã được cấp phép.
Điều này cho thấy việc cấp phép cho hàng nghìn cơ sở nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ vẫn là công việc khó khăn. Thực thi hệ thống cấp phép toàn quốc nhằm điều tiết tốt hơn ngành thủy sản và hiệu lực của các chính sách. Theo một hiệp ước được ký giữa Trung Quốc và Mỹ hồi tháng 12/2007, các nhà XK thủy sản sang Mỹ sẽ phải đăng ký với AQSIQ và đồng ý thanh tra hàng năm để đảm bảo sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn của Mỹ.
Chính sách thương mại chế biến thủy sản không thay đổi
Chính phủ Trung Quốc coi thương mại chế biến như một ngành sinh lợi nhờ vai trò to lớn đối với ngành sản xuất thức ăn và tạo việc làm cho người lao động. Sản phẩm NK theo “Thương mại Chế biến” vẫn được miễn thuế NK và thuế giá trị gia tăng nhưng các sản phẩm chế biến này phải được tái XK. Còn sản phẩm NK cho tiêu dùng sẽ phải chịu thuế NK và giá trị gia tăng.
Thị phần thương mại chế biến giảm nhẹ, chiếm khoảng 33% trong tổng 12,3 tỷ XK thủy sản của Trung Quốc năm 2010. Ngành thủy sản Trung Quốc cho rằng nước này đang nỗ lực để trở thành trung tâm sản xuất cá sòng, cá hồi, cá tuyết và cá trích của thế giới. Số DN tham gia thương mại chế biến đang tăng, đặc biệt tại tỉnh Sơn Đông và Liêu Ninh. Theo Bộ Tài chính Trung Quốc, các DN tham gia sơ chế thủy sản và các nông sản khác được hưởng chính sách thuế thu nhập ưu đãi, tuy nhiên chưa nội dung nào được công bố.
Sửa đổi chứng nhận NK thủy sản sống làm thực phẩm
Ngày 11/12/2008, AQSIQ đã công bố trên website của mình “Giải thích việc sửa đổi Quy định Thanh tra và Kiểm dịch đối với NK thủy sản làm thực phẩm”.
Theo đó, các nước XK sẽ phải bổ sung thông tin thanh tra và kiểm dịch chi tiết vào chứng thư vệ sinh XK. AQSIQ đã phê duyệt bản Chứng thư Vệ sinh đối với thủy sản sống làm thực phẩm của NOAA và cho rằng thương mại sẽ không bị tác động trong giai đoạn chuyển giao này
Trở lại
Người đăng: Bích Thủy
Nguồn tin: Vasep