Thị trường thủy sản Nigiêria
(15:42 - 07/01/2011)(Lượt xem: 295)
Nigiêria là thị trường lớn cho thủy sản với khả năng tiêu thụ 2,6 triệu tấn. Năm 2009, nhu cầu thủy sản của nước này đạt gần 2 triệu tấn (trên 1,8 tỷ USD).
Tổng quan thị trường
Nigiêria là thị trường lớn nhất vùng cận Sahara của Châu Phi với số dân trên 150 triệu người và tỷ lệ tăng trưởng dân số hàng năm ước tính 3%. XK dầu mỏ chiếm 20% GDP, 95% tổng doanh thu XK và gần 85% thu nhập của Nigiêria. Sản xuất trong nước yếu kém với việc sử dụng công suất trung bình 40% năm 2009, chủ yếu do chi phí cao, nguồn điện không ổn định và cơ sở hạ tầng kém phát triển. Những người thu nhập thấp chiếm ưu thế trên thị trường. Nigiêria vẫn là nước NK nhiều thực phẩm (trên 3 tỷ USD) mặc dù ngành nông nghiệp có tăng trưởng trong vài năm qua.
Nigiêria là thị trường lớn cho thủy sản với khả năng tiêu thụ 2,6 triệu tấn. Năm 2009, nhu cầu thủy sản của nước này đạt gần 2 triệu tấn (trên 1,8 tỷ USD). Trong đó, thủy sản tươi và đông lạnh NK (phần lớn là cá sòng, cá tuyết và cá đù đông lạnh) trên 800.000 tấn, trị giá khoảng 900 triệu USD. Dự kiến NK thủy sản của nước này năm 2010 sẽ vượt 1 triệu tấn do sản lượng thủy sản nội địa thấp, giá gia cầm cao và thu nhập ngày càng tăng.
Các nguồn cung cấp chính là EU, Nam Mỹ, khu vực Nam Thái Bình Dương, một số nước Châu Á và Châu Phi. Ngoài thủy sản tươi và đông lạnh, nước này NK cá khô không muối từ Xcăngđinavơ mỗi năm khoảng 160.000 tấn, trị giá trên 400 triệu USD. Động đất và sóng thần tại Pêru và Chilê năm 2010 đã gây thiệt hại nặng cho nghề cá ven bờ, cùng với nguồn cung thủy sản toàn cầu sụt giảm khiến nguồn cung thủy sản cho Nigiêria giảm đáng kể và góp phần làm thiếu hụt thủy sản của Nigiêria.
Với sự khuyến khích của chính phủ, sự đầu tư của tư nhân và các tổ chức phát triển nông nghiệp quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) vào ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản, sản lượng thủy sản nội địa (gồm cả thủy sản nuôi) sẽ tăng khoảng 0,5 triệu tấn.
Cơ hội và thách thức
Nigiêria vẫn là thị trường lớn NK cá nổi đông lạnh mặc dù thuế NK đã tăng từ 5% lên 10% từ tháng 11/2005. Dự kiến NK thủy sản đông lạnh của nước này năm 2010 vượt 1 triệu tấn, chủ yếu do:
- Sản lượng thủy sản nội địa thấp: Trong vòng 4 năm qua, sản lượng thủy sản nội địa vẫn ở mức thấp, trung bình khoảng 500.000 tấn, do sự bất ổn dọc bờ biển và đường thủy của Nigiêria cùng với chi phí năng lượng cao (đặc biệt là dầu điêzen), lạm thác và chi phí sản xuất nội địa cao trong khi năng suất phần nhiều lại thấp. Giá trung bình thủy sản nuôi khoảng 4 – 5 USD/kg, thấp hơn 30 – 50% so với giá thủy sản khai thác bằng lưới rê ven bờ và ngoài khơi. Do vậy, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cao và đối phó với tình trạng nguồn lợi thủy sản toàn cầu đang sụt giảm, chính phủ Nigiêria tiếp tục hợp tác với các nhà đầu tư trong và ngoài nước để phát triển ngành nuôi trồng thủy sản và cải thiện nguồn cung thủy sản trong nước. Tuy nhiên, quy mô nuôi trồng thủy sản còn nhỏ bé và chỉ cung cấp khoảng 100.000 tấn/năm, chưa bằng 1% tổng tiêu thụ thủy sản của cả nước. Cá da trơn và cá rô phi là các loài nuôi chính của nước này. Nuôi tôm biển đang phát triển nhưng giá tôm khá cao và hầu hết để XK.
- Thu nhập tăng: Tăng trưởng kinh tế chủ yếu do lợi nhuận từ dầu mỏ mang lại đã làm tăng sức mua của người tiêu dùng Nigiêria. Nhu cầu các sản phẩm thủy sản giá trị cao như philê và cá khô không muối của người tiêu dùng thuộc tầng lớp trung lưu ngày càng tăng.
- Giá gia cầm cao: Mặc dù kinh tế tăng trưởng nhưng người tiêu dùng Nigiêria vẫn dè chừng với các sản phẩm gia cầm do giá cao. Giá trung bình thịt gia cầm khoảng 5 USD/kg, cao hơn nhiều so với 1,60 USD/kg của thủy sản đông lạnh NK.
Theo Hội đồng XK Thủy sản Na Uy, XK cá tuyết của nước này sang Nigiêria năm 2007 tương đối khó khăn nhưng đến nay Nigiêria đã trở thành thị trường lớn thứ 3 của cá tuyết Na Uy. Nigiêria hiện là nước NK cá tuyết nguyên con đông lạnh lớn thứ 2 thế giới và cá tuyết Đại Tây Dương của Na Uy đã và đang trở thành sản phẩm NK thay thế cho cá sòng, cá bạc má và cá tuyết biển Bắc.
Cá bạc má, cá sòng Đại Tây Dương, cá tuyết, cá đù đông lạnh và các loài khác là đối tượng NK chủ yếu của Nigiêria. Nguồn cung chính là EU, Nam Mỹ và một số nước Châu Phi. Các nước EU (chủ yếu là Hà Lan) là nguồn cung chủ yếu và chiếm trên 60% thị phần. Thương nhân tại EU thu mua thủy sản đông lạnh từ các nguồn trên thế giới và có thể cung cấp với số lượng lớn 3.500 – 5.000 tấn/tàu, do đó giảm chi phí vận chuyển.
Ngoài thủy sản tươi và đông lạnh, Nigiêria cũng là thị trường lớn NK mỗi năm khoảng 160.000 tấn cá khô không muối, trị giá trên 400 triệu USD. chủ yếu từ Xcăngđinavơ và có thể từ Mỹ. Ngoài ra, nguồn điện trong nước thiếu đã hạn chế việc lưu kho thủy sản đông lạnh, tạo cơ hội cho các nhà cung cấp cá khô không muối Mỹ và các sản phẩm thủy sản không cấp đông khác.
Cơ cấu thị trường
Thủy sản và các sản phẩm thủy sản đông lạnh NK do Cục Thủy sản Liên bang (FDF) thuộc Bộ Nông nghiệp và Thủy lợi Liên bang và NAFDAC (cơ quan kiểm soát thực phẩm của Chính phủ) kiểm tra và cũng là đối tượng kiểm tra, đánh giá và cấp phép của hải quan. Sau khi thông quan, các sản phẩm này sẽ được vận chuyển bằng các xe tải cấp đông tới các kho lạnh tại Lago và các trung tâm đô thị khác.
Thủy sản đông lạnh NK được phân phối rộng rãi trong cả nước thông qua hệ thống các kho lạnh tư nhân. Các nhà bán buôn và bán lẻ chủ yếu xây dựng kho lạnh tại các thị trường truyền thống (chiếm trên 90%) và bán với giá cạnh tranh, thường thấp hơn 20 - 30% so với sản phẩm tại các kho lạnh và siêu thị tiện nghi, hiện đại. Các nhà bán lẻ chiếm trên 80% tại các thị trường truyền thống. Hệ thống chuỗi làm lạnh thường không được duy trì tốt vì các sản phẩm được dỡ xuống khỏi tàu và vận chuyển thông qua các kênh phân phối.
Thủy sản Hà Lan chiếm tỷ trọng NK lớn nhất của Nigiêria. Các nhà phân phối nội địa cho biết, việc đóng gói sản phẩm thủy sản đông lạnh của nước này rất tiện dụng, mặc dù một số sản phẩm thủy sản đóng gói NK từ Hà Lan có thể được đóng gói tại các nước khác. Các nhà XK thủy sản lớn tại Hà Lan đã đầu tư nhiều vào hoạt động khai thác thủy sản bằng lưới rê tại các nước khác, đặc biệt là các nước Châu Phi.
Tiếp cận thị trường
Quy định: Cục Thủy sản Liên bang (FDF) thuộc Bộ Nông nghiệp và Thủy lợi Nigiêria Liên bang và NAFDAC ban hành quy định NK và cấp phép NK cho các công ty trong nước. NAFDAC kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm thủy sản và sau đó cho phép xuất hàng.
Yêu cầu chứng nhận:
- Chứng nhận Xuất xứ và vệ sinh;
- Chứng nhận Sở hữu kho lạnh và phương tiện vận tải.
Yêu cầu ghi nhãn:
- Dấu của chủ hàng và dấu của cảng;
- Các côngtenơ phải ghi số để đối chiếu với số ghi trong hóa đơn.
Từ tháng 1/2006, thủy sản đông lạnh NK tại cảng nhập của Nigiêria phải do FDF, NAFDAC và Hải quan kiểm tra toàn bộ trước khi giao cho các nhà NK. Đối với các lô hàng được vận chuyển bằng các tàu lớn, thời gian thông quan phụ thuộc vào thời gian tàu cập bến tại Nigiêria. Thời gian này được giới hạn không quá 1 – 2 tuần/ 1 tàu. Thời gian kiểm tra và thông quan tại cảng đối với các lô hàng này tối đa 4 ngày.
Thuế quan: Hải quan Nigiêria là cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm thu thuế NK. Mức thuế đối với các sản phẩm thủy sản là 10% C&F, bao gồm thuế NK + 7% phụ thu của thuế NK + 1% phí kiểm tra Hải quan.
Trở lại
Người đăng: Bích Thủy
Nguồn tin: Vasep